Trong các tiêu chuẩn mà chúng tôi biết được từ TCVN8206:2009 đến EN795 hay CEN/TS 16415 đều không quy định lực căng T trong dây cứu sinh ngang đàn hồi chỉ lưu ý đừng quá võng để dây không bị chạm xuống mái là được.
Vì vậy với dây cứu sinh SSTC chúng tôi chỉ chọn có thể 1kN là đủ không yêu cầu bắt buộc chỉ yêu cầu không chạm mái là đạt yêu cầu
Để quý khách hàng không quen có thể lựa chọn kẹp dùng cho mái tôn 1 cách chính xác hơn. SSTC chúng tôi up lên 1 số mẫu mà hãng S-5 đã cập nhật
Hiện nay trong tất cả các tiêu chuẩn về an toàn từ TCVN8206:2009 đến EN795:2012 hoặc CEN/TS 16145, OSHA… đều không cho phép dùng ốc siếc cáp để liên kết 2 đầu dây cứu sinh ngang đàn hồi.
Cụ thể theo điều 5.2.3 của TCVN8206:2009 hoặc EN795:2012 Type C có quy định” …đầu cáp phải được cố định bằng các đầu nối được chế tạo chuyên dụng, đảm bảo khả năng chịu lực tương đương hoặc lớn hơn lực đứt danh nghĩa của cáp”
Điều này có nghĩa: “không cho phép dùng ốc siếc cáp thông thường (wire rope clips) làm mối nối chịu tải chính trong dây cứu sinh.
Nguyên nhân chủ yếu do ốc siếc cáp không chịu nổi tải trọng động gây ra. Nhưng dây cứu sinh chủ yếu chịu tải trọng động khi rơi
KẾT LUẬN: CHÍNH VÌ VẬY NẾU DÂY CỨU SINH CÁP BẠN MUA MÀ HỌ DÙNG PHƯƠNG ÁN ỐC SIẾC CÁP THÌ XEM NHƯ LOẠI NGAY MÀ KHÔNG CẦN PHẢI TỐN CÔNG THỬ TEST GÌ NỮA XEM CÓ ĐẠT HAY KHÔNG NHÉ? MẤT THỜI GIAN VÌ NGAY TIÊU CHUẨN ĐÃ KHÔNG CHO PHÉP
Rất nhiều bạn thắc mắc trong danh mục vật tư của dây cứu sinh SSTC có linh kiện ống 3 phân (30mm). Nhưng không biết tác dụng của nó làm gì? và nó được lắp đặt ở đâu? chịu lực thế nào?
Hãng SSTC có giải đáp thắc mắc các bạn như sau:
+Công dụng: Trong dây cứu sinh SSTC ống 3 phân có vai trò cấu tạo nó giúp việc giữ cáp sau khi căng không bị chùn trở lại cạ xuống mái. Nó chỉ là chi tiết phụ hổ trợ quá trình lắp đặt. Nó giống như cốt giá trong kết cấu bê tông cốt thép trong quá trình đổ bê tông cần có cốt giá đỡ sắt không chạm sát vào coffa.
Các bạn có thể hình dung quy trình lắp đặt sau khi lắp các linh kiện và luồn cáp xong, chúng ta bắt đầu bấm đầu cote tại vị trí bắt đầu để giữ dây cứu sinh. Sau đó căng cáp dần dần về đến điểm cuối, nhưng sau khi căng cáp từng nhịp thì cần phải có 1 chi tiết nào đó giữ cáp lại để khi thả ra căng các nhịp phía sau thì cáp vẫn không bị chùn xuống mái. Khi đó ống 3 phân làm nhiệm vụ này giúp giữ tạm thời việc căng cáp.
+ Khả năng chịu lực: Chính vì nó chỉ là thành phần cấu tạo tạm thời nên không xét đến như 1 phần chính tham gia chịu lực trong dây cứu sinh. Tuy nhiên để giữ được dây tạm thời không bị chùn thì lực của nó rơi vào khoảng 1kN nên thường chỉ bấm 2 răng là đủ.
+Vị trí lắp đặt: Ống 3 phần thường xuất hiện ở 3 vị trí sau:
- Tại vị trí các góc vuông của dây để bảo toàn bán kính cong khi căng cáp giúp cho việc khoá trượt sẽ trượt qua dễ dàng khi di chuyển trên dây cứu sinh. Khi qua các góc vuông mà không bị kẹt do cáp gãy sẽ có hình tam giác mà không có độ cong tròn.

- Tại vị trí đỉnh mái khi chuyển đổi độ dốc 2 bên thì cáp vẫn không bị gãy khi kéo cáp

- Vị trí cứ cách 2 nhịp có 1 cái để hổ trợ căng cáp đẩy dần về phía cuối dây luôn luôn căng mà không bị chùn xuống cạ vào tôn.

Trong dây cứu sinh SSTC chúng tôi có sử dụng 2 loại bulon thường là M8 & M12 với lực siếc như sau để các đơn vị thi công hoặc nghiệm thu kiểm định biết rõ
Với bulon M8 có lực siếc 15Nm
Với bulon M12 có lực siếc 52Nm
Dụng cụ sử dụng: Clê lực có giấy hiệu chuẩn còn hiệu lực đi kèm với clê lực có dán tem của đơn vị kiểm định/hiệu chuẩn
Công việc kiểm tra lực siếc bulon phải được kiểm tra ngay tại Site và ngay sau khi lắp đặt trước khi nghiệm thu bàn giao và có sự chứng kiến các bên để căn cứ lập biên bản nghiệm thu.
Sau khi kiểm tra có sự chứng kiến các bên thì tiến hành lấy bút đánh dấu để đánh dấu khoá lại sau này khi kiểm tra định kỳ có thể căn cứ theo dõi dễ dàng hơn.
Đúng như mọi người thấy và mình cũng đã từng thấy nhiều clip trên youtube thử tải dây cứu sinh bằng cách buộc bao cát và thả rơi như vậy liệu có đúng không?
Theo ý kiến riêng của mình nếu dùng bao cát để thả thì cũng phù hợp kiểu như các bạn an toàn rất lo lắng có nhận thức mối nguy và làm theo kiểu có còn hơn không dù sao vẫn tốt hơn là không làm gì. Với cách làm này thì các bạn chấp nhận và tự làm tự chịu khi có sự cố xảy ra. Vì nó hoàn toàn không đúng với tiêu chuẩn quy định.
Để xác định 1 sản phẩm dây cứu sinh có đầy đủ tính pháp lý đạt hay không đạt thì chúng ta phải căn cứ vào tiêu chuẩn hiện hành TCVN8206:2009 để thực hiện chứ không phải làm theo cảm tính kinh nghiệm bản thân hoặc thấy người ta làm thì mình làm.
Cụ thể căn cứ vào điều 6.1.1 của TCVN8206:2009 quy định về quả năng để thử có quy định như sau:
” Điều 6.1.1: Quả nặng để thử:
Quả nặng để thử phải có khối lượng là (100+-1) kg. Đối với hệ thống dây cứu sinh ngang đàn hồi được sử dụng cho nhiều hơn 1 người thì quả nặng thử phải có khối lượng là (200+-2)kg cho 2 người sử dụng và (300+-3kg)cho 3 ngừoi sử dụng. Tất cả các quả nặng phải có kết cấu cứng
Đối với phép thử độ bền tĩnh, yêu cần tác dụng 1 lực là (12+-0.5)kN. Cho phép sử dụng 1 tải trọng phù hợp”
( Trích nguyên văn điều 6.1.1-TCVN8206:2009)
Sự khác biệt rất lớn khi dùng tải mềm (bao cát) và tải cứng đó là. Khi các bạn dùng dây buộc bao cát xong thả rơi thì trong tích tắc khi rơi thực tế dây buộc sẽ giản ra 1 đoạn siếc chặt bao cát chính đoạn giãn ra này làm cho kết quả không chính xác.
Ngược lại nếu là tải cứng thì khi rơi đến gần cuối giá trị đạt cực đại sẽ tạo ra 1 xung lực rất lớn truyền ngược về 2 gối đỡ tạo nên 1 lực giật các kẹp liên kết với mái tôn và lực này rất lớn hơn rất nhiều so với trường hợp dây bị giãn.
Nên nếu liên kết kẹp với mái tôn không đảm bảo thì liên kết này sẽ phá hoại và kết quả dây cứu sinh bị rơi ra khỏi mái và dây xem như không đạt yêu cầu ( xem các bài trước đậy có clip mình đã đăng)
Chính vì vậy đối với dây cứu sinh nếu dùng tải mềm (tải buộc bao cát) để thử thật tế là không đúng với tiêu chuẩn cho phép vì nó không mô phỏng đúng với thực tế làm việc khi rơi. Sẽ có sự khác biết rất lớn ở kết quả
Với sản phẩm dây cứu sinh SSTC chúng tôi căn cứ vào TCVN 8206:2009 và theo như tiêu chuẩn này được quy định ở điều 5.3; 5.4 & 5.5 như sau:
5.3 Độ bền dư tĩnh:
Sau khi xác định theo điều 6.2.2 khẩu độ nào sẽ thu được lực đỉnh lớn nhất tại các neo đầu mút (nghĩa là tải trọng giữ lớn nhất), khẩu độ đó phải được thử theo 6.2.3.
Hệ thống này có thể biến dạng hoặc bị cong nhưng vẫn phải giữ được vật rơi.
5.4 Độ bền tĩnh của phụ kiện dây cứu sinh
Tât cả các phụ kiện của dây cứu sinh ngang đàn hồi phải được thử theo 6.3 (ví dụ các đầu mút dây, bộ phận nối neo đầu mút, các phụ kiện trên dây, thiết bị hấp thu năng lượng, đai ốc siếc).
Các phụ kiện của dây có thể biến dạng hoặc bị cong nhưng vẫn phải giữ được vật rơi. Bất kỳ biến dạng nào của các bộ phận phải không gây ra hoặc không có khả năng gây ra phá huỷ dây cứu sinh ngang đàn hồi.
5.5 Độ bền của bộ phận nối với neo trung gian
Khi thử theo 6.4, bộ phận nối với neo trung gian có thể biến dạng hoặc bị cong nhưng vẫn phải giữ được vật rơi
(Trích nguyên văn điều 5.3; 5.4 & 5.5)
Theo nội dung trên có những từ chuyên môn có thể hơi khó hiểu đối với các bạn nên để dễ hiểu mình sẽ tóm tắt sơ lược 1 số ý:
- Cả 3 điều trên đều nói đến cụm từ”có thể biến dạng hoặc bị cong nhưng vẫn phải giữ được vật rơi” có thể hiểu là đạt yêu cầu của trạng thái giới hạn thứ 2 của sức bền vật liệu.
- Nếu các bạn là kỹ sư xây dựng đều đã biết về 3 trạng thái của sức bền vật liệu mà đã học ở (bộ môn sức bền 1) năm thứ 2 đại học:
Trạng thái 1 : về cường độ
Trạng thái 2: biến dạng và hình thành vết nứt
Trạng thái 3: phá hoại
Tuỳ theo tầm quan trọng mà tiêu chuẩn thiết kế quy đinh cho phép chúng ta thiết kế theo trạng thái nào để tối ưu hoá khả năng chịu lực của sức bền vật liệu .
Ví dụ đối với kết cấu móng và công trình ngầm thì bắt buộc thiết kế tính toán theo trạng thái giới hạn thứ 1 về cường độ. Không cho phép hình thành vết nứt vì ngầm bên dưới nếu nứt sẽ dẫn đến thấm và cốt thép bên trong sẽ bị rỉ sét lâu ngày sẽ làm giảm chất lượng công trình.
Nhưng đối với phần kết cấu bên trên như cột, dầm, sàn… thì cho phép tận dụng tối đa sức bền vật liệu nên cho phép thiết kế theo trạng thái giới hạn thứ 2 (cho phép biến dạng và hình thành vết nứt). Vì cho phép kết cấu nứt trong giới hạn cho phép nên có hẳn 1 tiêu chuẩn quy định về vết nứt cho phép bao nhiêu là trong giới hạn?
Người không chuyên môn nhìn kết cấu nứt có thể sợ công trình sắp sập đến nơi nhưng đối với KS kết cấu thì nứt kết cấu như cột, dầm sàn…nếu có chỉ mới là dấu hiệu cho thấy bê tông đã làm việc tối đa và cốt thép mới chỉ bắt đầu làm việc. Cần theo dõi thêm chưa gì là nghiêm trọng. (Chính vì vậy bạn có thể thấy ở đâu đấy vết nứt rất lớn thường thấy ở những chung cư cũ vài chục năm trước. Nhưng vẫn chưa bị sập là vì vậy nhiều khi nó vẫn còn trong giới hạn cho phép chỉ nhìn thiếu thẩm mỹ thôi).
Căn cứ vào tiêu chuẩn trên và quy định về sức bền vật liệu chúng ta thấy rằng dây cứu sinh cho phép thiết kế ở trạng thái giới hạn thứ 2 cho phép biến dạng nhưng chưa phá hoại (vì phá hoặc thì đã rơi vào trạng thái giới hạn thứ 3) nên sản phẩm SSTC thiết kế rơi vào trường hợp này. tức vẫn trong giới hạn an toàn cho phép đủ khả năng chịu lực
Đúng như quy định trong nghị định về quản lý chất lượng công trình (nghị định 06/2021/NĐ-CP hiện hành cũng như những nghị định trước đây đều có quy định rõ). Tất cả các sản phẩm khi đưa vào công trình phải có đầy đủ kết quả kiểm định thì được phép sử dụng.
Ở bài trước mình chỉ nói đối với dây cứu sinh thì chưa đủ cơ sở để kết luận. Vì chưa có hồ sơ thiết kế, chưa có cơ sở chứng minh như clip thực nghiệm bằng chứng kết quả đạt yêu cầu (trừ khi nhà cung cấp trưng bằng chứng truy nguyên), nó khác với quy định ở nghị định trên 1 số điều sau:
- Với các sản phẩm khác quy định trong nghị định quản lý chất lượng cần phải có kết quả kiểm định là đúng. Vì nó đã có đầy đủ hồ sơ thiết kế được phê duyệt. Từ đơn vị thiết kế có giấy phép hoạt động và chứng chỉ hành nghề được sở XD hoặc bộ XD cấp tuỳ theo năng lực.
- Ngoài ra hồ sơ còn đã được 1 đơn vị tư vấn thẩm tra rà soát lại có đóng dấu đã thẩm tra mới được chủ đầu tư duyêt đưa ra thi công
Khi đó kết quả kiểm định được dùng để kiểm tra rà soát đối chiếu lại thêm 1 lần nữa bời đơn vị Tư Vấn Giám Sát. Ở đây là tư vấn giám sát kiểm tra xem so với số liệu đầu vào như: cường độ tính toán của thép? mác bê tông…có đúng như hồ sơ thiết kế ghi hay không? Nếu đúng thì xem như đạt yêu cầu và cho phép sử dụng








